SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu Lớp 4

1.Lí do chọn đề tài

           Để học tốt các môn học trong chương trình Tiểu học nói chung và lớp 4 nói riêng, ngay từ lớp 1, học sinh phải học tốt môn Tiếng Việt. Đây là giai đoạn quan trọng nhất , làm tiền đề để học sinh tiếp tục học lên các lớp trên.

     Mục tiêu của môn Tiếng Việt trong chương trình bậc tiểu học là: 

* Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.

* Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài.

* Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen gìn giữ sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong bộ môn Tiếng Việt ở Tiểu học, phân môn Luyệntừ và câu là một trong những phân môn chiếm thời lượng khá lớn. Nó tách thành một phân môn độc lập, có vị trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn... song song tồn tại với các môn học khác. Để viết, nói, nghe hiểu, và sử dụng Tiếng Việt thành thạo, có kĩ năng thì học sinh phải biết dùng từ, đặt câu đúng, viết được một đoạn văn, bài văn...

          Hằng ngày việc tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, cha mẹ cũng như với mọi người đòi hỏi các em phải có vốn ngôn ngữ đồng thời qua việc tiếp xúc đó các em cũng bổ sung thêm cho mình những gì bị thiếu hụt. Hay khi tiếp xúc với một tác phẩm văn học ta phải biết những từ ngữ tác giả sử dụng trong đó với dụng ý gì, cấu trúc câu như thế nào. Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cần thiết và mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ sở hình thành ngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thức mới trong các môn học khác. 

Mặt khác học sinh tiểu học là đối tượng mà năng lực tư duy còn hạn chế, vốn từ của các em còn nghèo nàn, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ chưa cao. Do đó phải làm sao nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn luyện từ và câu ở Tiểu học nói chung và lớp 4 nói riêng. Đây là vấn đề khiến tôi rất băn khoăn trăn trở và thôi thúc tôi hăng say nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4”.

doc 30 trang Đào Bích 25/12/2023 540
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_giang_day_phan_mon.doc

Nội dung text: SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu Lớp 4

  1. 3. Phương pháp giảng dạy 3.1.Phương pháp trực quan Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học trong đó có giáo viên sử dụng các phương pháp nhằm giúp học sinh có biểu tượng đúng về sự vật và thu nhận được kiến thức, rèn luyện kỹ năng theo nội dung bài học một cách thuận lợi. Thu hút sự chú ý và giúp học sinh ghi nhớ bài tốt hơn, học sinh có thể khái quát nội dung bài và phát hiện mối liên hệ của các đơn vị kiến thức. Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát theo nội dung cần truyền đạt. VD: Khi dạy bài ''Đồ chơi - trò chơi'' giáo viên đưa ra 6 bức tranh trong SGK để tìm ra các từ ngữ chỉ tên đồ chơi - trò chơi mà các em được mở rộng trong bài học. Bức tranh 1: học sinh tìm từ đồ chơi: diều -Trò chơi : thả diều Bức tranh 2: từ chỉ đồ chơi: lồng đèn/ Trò chơi: rước đèn Bức tranh 3: từ chỉ đồ chơi: ''dây'' , ''nồi xoong'', ''búp bê/ Trò chơi: ''nấu ăn'', ''cho bé ăn bột'', ''nhảy dây'' Bức tranh 4: . *Tóm lại: Sử dụng phương pháp trực quan giảng dạy phân môn Luyện từ và câu là rất quan trong vì sẽ khai thác triệt để các kênh hình của bài học nhờ đó mà giáo viên giúp học sinh nắm nội dung bài tốt hơn. 3.2. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề là giáo viên đưa ra những tình huống gợi vấn đề điều khiển học sinh phát hiện vấn đề hoạt động tự giác chủ động và sáng tạo để giải quyết vấn đề thông qua đó mà kiến tạo tri thức rèn luyện kỹ năng. Tăng thêm sự hiểu biết và khả năng áp dụng lý thuyết vào giải quyết vấn đề của thực tiễn. Nâng cao kỹ năng phân tích và khái quát từ tình huống cụ thể và khả năng độc lập cũng như khả năng hợp tác trong quá trình giải quyết vấn đề. Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chuẩn bị trước câu hỏi sao cho phù hợp với mục đích, yêu cầu và nội dung của bài đảm bảo tính sư phạm, đáp ứng với các đối tượng học sinh, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức để giải quyết vấn đề mà học sinh đưa ra. VD: Khi dạy bài mở rộng vốn từ ''Đồ chơi - trò chơi'' Giáo viên đưa ra một số thành ngữ - tục ngữ sau: ''Chơi với lửa'', ''Ở chọn nơi, chơi chọn bạn'', để học sinh lựa chọn cách giải quyết: a. Nếu bạn em chơi với một số bạn hư nên học kém hẳn đi. 6/27
  2. + Hỏi: Vậy động từ là gì? (Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật). Vậy qua 4 câu hỏi gợi mở cho các em đã kết thúc một khái niệm ngữ pháp mà nội dung của bài đề ra. * Tóm lại phương pháp gợi mở vấn đáp được sử dụng trong tất cả tiết học và phát huy được tính chủ động sáng tạo của học sinh. 3.4. Phương pháp phân tích Đây là phương pháp dạy học trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên tiến hành tìm hiểu các dấu hiệu theo định hướng bài học từ đó rút ra bài học. Giúp học sinh tìm tòi huy động vốn kiến thức cũ của mình để tìm ra kiến thức mới. Tạo điều kiện cho học sinh tự phát hiện kiến thức (về nội dung và hình thức thể hiện) VD: Khi dạy ''Câu hỏi và Dấu chấm hỏi'' B1: Cho học sinh tìm các câu hỏi trong bài tập đọc ''Người tìm đường lên các vì sao''. Các em sẽ tìm được 2 câu: 1. Vì sao quả bóng không có cánh mà vẫn bay được? 2. Cậu làm thế nào mà mua được nhiều sách và dụng cụ thí nghiệm như thế? Phân tích: Hỏi: Câu hỏi (1) là của ai? (Xi - ôn - cốp - xki tự hỏi mình) Hỏi: Câu hỏi (2) là của ai? (Bạn của Xi - ôn - cốp - xki hỏi) Hỏi: Dấu hiệu nào giúp em nhận ra đó là câu hỏi ? (cuối câu có dấu chấm hỏi) giáo viên: Khi đọc câu hỏi phải nhấn mạnh vào ý cần để hỏi. Qua phân tích của giáo viên, học sinh rút ra đựơc bài học: 1. Câu hỏi (còn gọi là câu nghi vấn) dùng để hỏi về những điều chưa biết. VD: Bạn đã học bài chưa? VD: Có phải Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời không? VD: Chú bé đất trở thành chú Đất Nung phải không? VD: Bạn Hoa trở thành học sinh giỏi à? 2. Phần lớn câu hỏi là để hỏi người khác nhưng cũng có những câu để tự hỏi mình. VD: Chiếc bút này mình đã mua ở đâu nhỉ? VD: Vì sao Trái Đất lại quay nhỉ? VD: Thứ mấy là sinh nhất của mình nhỉ? 3. Câu hỏi thường có các từ nghi vấn (có phải, không; phải không, à, ) Khi viết cuối câu hỏi có dấu chấm hỏi (?) 8/27
  3. + Đa số các em tiếp thu bài học một cách thụ động, chưa có phương pháp học tập một cách đúng đắn, sự chuẩn bị bài chưa chu đáo,Nếu Giáo viên có dẫn dắt, tổ chức dạy học theo hướng đổi mới thì hiệu quả học tập cũng chưa cao, chưa phát huy được năng lực học của các đối tượng học sinh. + Trong giờ học , học sinh chưa thật mạnh dạn phát biểu ý kiến của mình, còn sợ sai, sợ các bạn cười, bởi vậy năng lực học của các em chưa được bộc lộ, nếu Giáo viên sợ mất thời gian không để ý đến thì càng học các em càng chán, càng không hiểu bài. Một số em khác hầu như không trả lời được các câu hỏi trong bài vì thiếu sự chuẩn bị bài ở nhà. + Học sinh lười tư duy, không có tính chịu khó, không ham học, có tính ỷ lại cho thầy cô, cho bố mẹ; thậm chí có em còn ngại đến trường, xác định đến trường là để có bạn chơi chứ chưa xác định đến để học, nếu giáo viên mà ép học thì chỉ học một cách bắt buộc mà thôi. c. Các yếu tố khác liên quan: Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con em mình còn có quan điểm '' trăm sự nhờ nhà trường, nhờ cô'' cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập bộ môn. - Để học tốt được TiếngViệt đòi hỏi học sinh phải luyện tập cả quá trình lâu dài bền bỉ nếu không có năng khiếu. III.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 1.Đối với giáo viên: - Phân môn Luyện từ và câu là phần kiến thức khó nên một số giáo viên còn lung túng và gặp khó khăn trong khi hướng dẫn học sinh nắm được yêu cầu và vân dụng vào việc làm các bài tập. - Một số giáo viên chưa chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu để khai thác kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp cho học sinh còn phụ thuộc vào đáp án, gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này. - Một số giáo viên chưa quan tâm đến mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ cho học sinh giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt. 2. Đối với học sinh - Hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân môn Luyện từ và câu nên ít có hứng thú học tập, chưa dành nhiều thời gian để học môn này. - Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu Từ đó việc nhận diện phân loại, xác định hướng làm bài còn nhầm lẫn. - Học sinh thường nắm kiến thức một cách máy móc, thụ động và không tỏ ra yếu kém. 10/27
  4. Ví du : Khi dạy bài « Câu kể Ai là gì ? » với yêu cầu dùng câu kể Ai là gì ? viết đoạn văn giới thiệu về gia đình mình hoặc tập thể lớp mình. Chắc chắn rằng, giờ học này sẽ sinh động hơn khi học sinh có tấm ảnh chụp cả gia đình, các em sẽ nhìn vào đó để giới thiệu thành viên của gia đình mình cho cả lớp nghe qua tấm ảnh đó. 3.Biện pháp 3: Hướng dẫn sự chuẩn bị bài của học sinh *Mục tiêu Hướng dẫn học sinh xem trước bài và định ra những yêu cầu cần chuẩn bị về kiến thức cũng như đồ dùng cho bài học sắp tới. *Giải pháp Sau mỗi tiết học, giáo viên cần dành chút ít thời gian để hướng dẫn cho các em xem trước bài học sắp tới và những phần cần chuẩn bị, có như vậy khi học bài mới các em đã được làm quen, xem qua những kiến thức mình sắp học đồng thời cũng bổ sung những kiến thức đã học liên quan đến bài mới. Đây cũng là biện pháp góp phần to lớn vào việc nâng cao hiệu quả dạy học. Ví dụ : Để chuẩn bị cho bài «Vị ngữ trong câu kể Ai thế nào ? » SGK Tiếng Việt kì 2 trang 29, thì học sinh phải đọc trước bài xem những kiến thức nào có liên quan. Học sinh phải tự ôn lại mẫu câu Ai thế nào ?, nắm vững, nắm chắc, thì khi học bài mới không bỡ ngỡ, thụ động. 4.Biện pháp 4: Phân chia thành các mảng kiến thức *Mục tiêu Xác định những yêu cầu cần đạt, những yêu cầu cần nắm, những mảng kiến thức khó, những mảng kiến thức xuyên suốt quá trình học tập ở Tiểu học. *Giải pháp - Trên cơ sở xác định được những mảng kiến thức giáo viên đi sâu, luyện tập kĩ cho học sinh trong các giờ học luyện từ và câu. - Có thể phân chia thành các mảng kiến thức sau : a. Mảng kiến thức về mở rộng vốn từ. Dạy mở rộng vốn từ chính là công việc làm giàu vốn từ cho học sinh. Nó bao gồm các việc có liên quan mật thiết với nhau.Dạy nghĩa từ là làm cho học sinh hiểu nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của học sinh những từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết, làm cho các em hiểu được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ. hầu hết các bài dạy mở rộng vổn từ đều được thiết kế các bài tập thực hành để thông qua các bài tập thực hành đó dạy nghĩa từ cho học sinh. Ví dụ : Bài mở rộng vố từ nhân hậu, đoàn kết (SGK Tiếng việt 4 tập 1) 12/27
  5. quan hệ với nhau về nghĩa hay không. Ví dụ: từ " đi đứng"; tiếng đi( chỉ hoạt động tự di chuyển bằng chân của người và động vật) ghép với tiếng đứng( chỉ tư thế của người, thân thẳng, hai chân đặt trên nền và đỡ toàn thân) thành "đi đứng" để biểu thị một ý nghĩa khái quát hơn mỗi tiếng( hoạt động di chuyển nói chung). Như vậy, qua phân tích ta dễ nhận ra nhóm từ này thuộc từ ghép( ghép tổng hợp). Còn nhóm từ: hào hoa, hào hùng, hoan hỉ, căn cơ, chuyên chính, thành thực, nếu học sinh biết được đó là từ ghép thì tôi hỏi: Tại sao con biết? Còn nếu học sinh không biết thì tôi cho học sinh biết đây là nhóm từ ghép Hán Việt có hình thức ngẫu nhiên giống từ láy, bởi vì mỗi tiếng trong những từ này đều có nghĩa. Ví dụ: Hoan hỉ > hoan có nghĩa là "vui"; hỉ: "mừng" Ban bố > ban có nghĩa là ban hành; bố: "công bố" Tuy nhiên ở tiểu học, đây là mảng kiến thức được mở rộng và nâng cao; trong chương trình sách giáo khoa hiện hành ít gặp song một số từ rơi vào các trường hợp nói trên lại xuất hiện trong các đề thi khảo sát chất lượng học sinh; đề thi khảo sát học sinh giỏi, nên đối với đối tượng học sinh khá giỏi thì giáo viên nên cho học sinh tiếp cận. c. Mảng kiến thức về từ loại Gồm có: danh từ; động từ; tính từ Ngoài việc tìm ra những kiến thức cần nắm trong phần ghi nhớ,( Danh từ chỉ sự vật; Động từ chỉ hoạt động trạng thái; còn tính từ chỉ đặc điểm, tính chất), Giáo viên có thể cho học sinh nhận biết ba từ loại này dựa trên những khả năng sau: - Khả năng kết hợp của từ: + Danh từ có khả năng kết hợp với tất cả, những, các, mỗi, mọi, này, kia, đó, Ví dụ: Tất cả những quyển sách đó + Động từ có khả năng kết hợp với hãy, đừng, chớ, Ví dụ: đừng đi + Tính từ có khả năng kết hợp với hơi, rất, quá, lắm, Ví dụ: rất đẹp. - Khả năng làm thành phần câu + Danh từ thường làm chủ ngữ. Khi làm vị ngữ, danh từ thường phải kết hợp với từ là( Ví dụ: Em là học sinh). + Động từ thường làm vị ngữ và khả năng làm vị ngữ của động từ là không hạn chế. Động từ có thể làm chủ ngữ( Ví dụ: Chơi cờ rất thú vị.), nhưng khi đóng vai trò chủ ngữ, động từ mất khả năng kết hợp với đã, đang, sẽ, cũng, vẫn, cứ, hãy, chớ, đừng, 14/27
  6. - Chúng em đi lao động. VN - Trong giờ lao động, chúng em làm việc rất tích cực. TN d. Mảng kiến thức về trạng ngữ Cần lưu ý trạng ngữ với một số thành phần khác của câu. Để phân biệt trạng ngữ với một số thành phần khác của câu, trước hết phải cho học sinh hiểu: + Trạng ngữ là thành phần phụ bổ sung ý nghĩa tình huống cho câu. Cụ thể là cho biết thời gian( trạng ngữ chỉ thời gian); nơi chốn( Trạng ngữ chỉ nơi chốn); nguyên nhân( trạng ngữ chỉ nguyên nhân); mục đích( trạng ngữ chỉ mục đích); cách thức, phương tiện( trạng ngữ chỉ phương tiện). Nếu lược bỏ trạng ngữ, câu vẫn trọn vẹn(đủ chủ ngữ, vị ngữ) và hoàn chỉnh. Nhưng có thêm trạng ngữ thì ý nghĩa của câu được phản ánh một cách thực tế, khách quan hoặc tình cảm, nhận thức chủ quan của người nói( người viết). + Về cấu tạo, trạng ngữ là một cụm từ có hoặc không có quan hệ từ đứng trước. Ví dụ: Vào lúc 7 giờ, em đi học. Hôm qua, em đi xem xiếc. + Về vị trí, trạng ngữ có trể đứng trước, đứng giữa, hoặc đứng sau nòng cốt câu. Ví dụ, có thể nói: (Vào lúc 7 giờ, em đi học. Em đi học Vào lúc 7 giờ. Em,Vào lúc 7 giờ, đi học.). * Phân biệt trạng ngữ với một vế của câu ghép. Chẳng hạn: trạng ngữ chỉ nguyên nhân hay bị nhầm lẫn với vế câu ghép có quan hệ nguyên nhân- kết quả. Ví dụ: 1. Nhờ trận mưa rào, trời mát mẻ hẳn. 2. Vì chăm học, Lan tiến bộ hẳn lên. Ở ví dụ 1, học sinh hay nhầm lẫn " nhờ trận mưa rào"là vế câu ghép nhưng thực ra trạng ngữ" nhờ trận mưa rào" do cụm danh từ( trận mưa rào) kết hợp với quan hệ từ" Nhờ" tạo nên. Còn ở ví dụ 2, học sinh lại hay nhầm lẫn" vì chăm học" là trạng ngữ chỉ nguyên nhân. Nhưng khác với trạng ngữ" vì chăm học" là một vế câu ghép mà chủ ngữ của nó hoàn toàn có thể khôi phục được:"Vì Lan chăm học, cậu ấy tiến bộ hẳn lên.". Trường hợp này, học sinh cần biết: Trạng ngữ do một cụm từ có quan hệ từ đứng trước còn vế câu ghép thì hoàn toàn có thể khôi phục được chủ ngữ. 16/27
  7. cấu tạo của tiếng: tiếng thường gồm có 3 bộ phận ''âm đầu - vần - thanh'' (có tiếng không có âm đầu) Hay chỉ là một khái niệm ''Câu hỏi và dấu chấm hỏi'' ở lớp 2 học sinh mới chỉ cần đạt yêu cầu ''Chọn dấu chấm hay dấu hỏi để điền vào ô trống'' ở lớp 3 các em phải đặt và trả lời câu hỏi. Những đến lớp 4 thì không những phải hiểu khái niệm mà còn phải biết giữ lịch sự khi đặt câu hỏi tránh những câu hỏi làm phiền lòng người khác. VD: Bạn có thể cho mình mượn cái thước kẻ được không? Phải biết sử dụng vào câu hỏi với mục đích khác, không chỉ dừng lại ở hỏi những điều muốn biết mà còn phải biết dùng câu hỏi để thể hiện: thái dộ khen, chê, khẳng định, phủ định, yêu cầu, mong muốn. VD: Câu hỏi thể hiện thái độ khen chê. - Sao nhà cậu lại sạch thế nhỉ? - Sao vở cậu lại bẩn thế ? VD: Câu hỏi thể hiện yêu cầu mong muốn: Em trai em nhảy nhót trên giường huỳnh huỵch lúc em đang chăm chú học bài. Em bảo : ''Em ra ngoài chơi cho chị học bài được không? VD: Câu hỏi thể hiện sự nhờ cậy, giúp đỡ. - Bà cụ hỏi một người đang đứng vơ vẩn trước bến xe:''Cháu có thể xem giúp bà mấy giờ có xe đi Thanh Hóa không? 6.Biện pháp 6 : Sử dụng linh hoạt nhiều hình thức dạy học trong một tiết dạy, phát huy tính tích cực của học sinh. *Mục tiêu Giáo viên sử dụng nhiều các hình thức tổ chức dạy học: làm việc cá nhân, trao đổi nhóm, đàm thoại . Có hệ thống câu hỏi trong mỗi bài thật cụ thể phù hợp với mọi đối tượng, gây hứng thú cho học sinh tránh nhàm chán đơn điệu. *Giải pháp Tùy theo từng bài mà có các hình thức tổ chức dạy học khác nhau : VD: Khi dạy bài: ''Mở rộng vốn từ Uớc mơ" BT2: Học sinh thảo luận nhóm đôi Tìm thêm những từ cùng nghĩa với ''ước mơ'' - 1 em tìm từ bắt đầu từ tiếng ''ước'' - 1 em tìm từ bắt đầu từ tiếng ''mơ'' BT3: Nêu yêu cầu chép thêm những từ: đẹp đẽ, viển vông, cao cả, lớn, nho nhỏ, kỳ quặc, dại dột, chính đáng. Học sinh thảo luận nhóm 4 - Đánh giá cao: ước mơ cao đẹp, ước mơ chính đáng, ước mơ cao cả, ước mơ lớn. 18/27
  8. LUYỆN TỪ VÀ CÂU Bài: Câu khiến I/ Mục tiêu: 1. Kiến thức: Nắm được cấu tạo, tác dụng của câu khiến 2. Kĩ năng: Biết nhận diện câu khiến trong đoạn trích, bước đầu biết đặt câu khiến nói với bạn, với anh chị hoặc với thầy cô. 3. Thái độ: HS tích cực tham gia các hoạt động xây dựng bài, yêu thích môn Tiếng Việt. II/ Đồ dùng dạy học: 1. GV: SGK, máy chiếu , Bài giảng điện tử, phấn màu 2. HS: SGK, vở III/ Các hoạt động dạy – học chủ yếu TG Néi dung Ho¹t ®éng cña gv Ho¹t ®éng cña hs 5’ 1.Khởi động - GV ổn định tổ chức - Nêu những kiểu câu đã GV nêu câu hỏi - HS lắng nghe và trả lời học? - Câu hỏi và câu kể dùng để làm gì? - HS đọc - Câu 1 thuộc kiểu câu - GV bấm máy hiện nội gì? Vì sao? dung hai câu lên bảng - HS trả lời - Câu 2 có thuộc câu kể - GV nêu câu hỏi - HS nhận xét, bổ hay câu hỏi không? sung 2. Giới thiệu bài - GV chốt và nêu nội dung - HS lắng nghe bài học - Ghi tên bài lên bảng - HS ghi vở 11’ 2.1: Nhận xét: Yêu cầu HS đọc nội dung Bài 1+2: BT1,2 - 1HS đọc yêu cầu MT: Tìm hiểu tác dụng - Yêu cầu HS đọc câu in của các câu in nghiêng nghiêng trong bài tập 1 (câu khiến và dấu!) - Tổ chức cho HS suy nghĩ - HS làm bài tập Gióng nhìn mẹ, mở và làm bài cá nhân miệng, bật lên thành - GV giúp các HS còn lúng tiếng: túng - Mẹ mời sứ giả vào -GV ghi câu lên bảng đây cho con! - GV chốt lại lời giải đúng, - 2-3 HS nêu ý kiến -Tìm câu in nghiêng chỉ bảng đã viết câu khiến, - Nhận xét, bổ sung - Câu này dùng để làm nói lại tác dụng của câu, dấu gì? hiệu cuối câu -Cuối câu có dấu gì? - GV chốt : - HS lắng nghe 20/27
  9. TG Néi dung Ho¹t ®éng cña gv Ho¹t ®éng cña hs nhảy nhé! Đừng có bài ,bổ sung nhảy lên boong tàu! - GV nhận xét, bổ sung - Nhà vua hoàn gươm lại cho Long Vương! -HS lắng nghe - Con đi chặt cho ta. - GV chốt đáp án đúng Chuyển BT 2 8’ Bài 2: - GV gọi HS nêu yêu cầu - 1 HS đọc yêu cầu MT: Luyện kỹ năng của bài - HS lắng nghe nhận diện câu khiến - GV lưu ý HS: Câu khiến - HS làm bài vào vở trong SGK Toán hoặc trong SGK thường dùng để - Báo cáo KQ Tiếng Việt yêu cầu HS TLCH hoặc giải bài tập. Cuối câu thường có dấu chấm - GV chiếu vở chữa bài - Nhận xét, bổ sung - GV nhận xét, đánh giá GVgiải thích chuyển BT3 - HS lắng nghe 5’ Bài 3: - GV gọi HS nêu yêu cầu - HS nêu yêu cầu MT: Rèn kỹ năng đặt của bài câu khiến (để nói với - Y/c HS thảo luận nhóm - HS thảo luận làm bài bạn, anh, chị , thầy cô bàn các tình huống và đóng giáo) vai, trong đối thoại phải - Các nhóm lên đóng vai dùng câu khiến (1’) -Nhóm khác nhận xét, bổ - Nêu câu khiến của - GV cho các nhóm lên đóng sung nhóm bạn? vai báo cáo kết quả - Vì sao con biết? - GV chốt kiến thức - Nêu dấu hiệu nhận biết câu khiến? GV: Tùy theo đối tượng giao tiếp để có lời xưng hô cho phù hợp, thể hiện mình là học sinh ngoan 2’ 3. Củng cố , dặn dò - Nhận xét tiết học - HS lắng nghe - Dặn dò HS chuẩn bị bài sau Rút kinh nghiệm: 22/27
  10. PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN I. BÀI HỌC KINH NGHIỆM. Trong quá trình thực hiện chuyên đề ''Nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 '' tôi đã rút ra một số kinh nghiệm như sau: 1. Lập kế hoạch bài học: Giáo viên cần nắm vững nội dung cơ bản của từng bài học trong sách giáo khoa và những hướng dẫn cụ thể về mục tiêu cần đạt. Tuỳ theo đặc điểm của từng bài học mà xây dựng kế hoạch bài giảng cho phù hợp. Song dù thế nào cũng cần có đầy đủ các hoạt động lớp và phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động đó. 2. Xác định một số nội dung, kiến thức trọng tâm khó trong chương trình để luyện thêm cho học sinh. + Từ ghép, từ láy. + Danh từ động từ,tính từ. + Câu kiểu Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì? + Trạng ngữ. 3. Nắm vững nội dung chương trình, mức độ yêu cầu học và các đối tượng học sinh. Nắm chắc nội dung chương trình, ý đồ của sách giáo khoa, dạy sát đối tượng học sinh, lựa chọn phương pháp hình thức tổ chức phù hợp với mỗi dạng bài, cần xác định không phải dạy bài khó, bài nâng cao thì học sinh mới giỏi. 4. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học: Giáo viên có thể vận dụng linh hoạt phối hợp các hình thức tổ chức dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân, có thể tổ chức học sinh dưới hình thức trò chơi để kích thích sự hứng thú học tập của học sinh, nhằm đạt kết quả cao trong giờ học mà học sinh không nhàm chán. Tuy vậy những kinh nghiệm nêu trên mới chỉ là sự đúc kết kinh nghiệm và nghiên cứu của bản thân nên tính khách quan chưa cao. Đồng thời phương pháp vừa nghiên cứu vừa thực nghiệm nên chuyên đề của tôi cũng không thể không có những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các bạn bè đồng nghiệp, các cấp lãnh đạo để chuyên đề của tôi hiệu quả hơn. 24/27
  11. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Từ điển Tiếng Việt Căn Bản (Nhà xuất bản giáo dục – Giấy phép xuất bản số: 233- CXB cấp). 2. Chuyên đề Giáo dục Tiểu học (Nhà XBGD Việt Nam năm 2011). 3. PGS.TS Lê Phương Nga – PGS.TS Nguyễn Trí. Phương pháp dạy học Tiếng Việt tập 1,2. NXB Đại học sư phạm. 4. PGS.TS Lê Phương Nga (số1/1994) – Tìm hiểu vốn từ của học sinh Tiểu học. Tạp chí NCGD. 26/27
  12. MỤC LỤC PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5. PhẠM VI NGHIÊN CỨU 6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHẦN THỨ II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Nội dung chương trình, yêu cầu kiến thức, kĩ năng của phân môn Luyện từ và câu 2. Quy trình dạy luyện từ và câu 3. Phương pháp giảng dạy II.CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.Thuận lợi 2. Khó khăn III. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 1.Đối với giáo viên 2.Đối với học sinh VI.MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4 1.Biện pháp1:Lập kế hoạch bài học 2.Biện pháp 2: Chuẩn bị đồ dung 3.Biện pháp 3: Hướng dẫn sự chuẩn bị bài của học sinh 4.Biện pháp 4: Phân chia thành các mảng kiến thức 5.Biện pháp 5: Nắm vững và phát huy những kiến thức và kĩ năng học sinh đã đạt được ở các lớp 1,2,3 6.Biện pháp 6: Sử dụng linh hoạt nhiều hình thức dạy học trong một tiết dạy, phát huy tính tích cực của học sinh 28/27